Từ Công Phụng

Sinh ngày 27.7.19 tại Văn Lâm Ninh Thuận. Cử nhân luật, cựu biên tập viên đài phát thanh VOF. Rời Việt Nam vào tháng 10.1980 hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ. Viết nhạc từ năm 1960

Tác phẩm đã xuất bàn :

Tình Khúc Từ Công Phụng (thập niên 60) gồm 12 Ca khúc:

Bây Giờ Tháng Mấy

Mùa Thu Mây Ngàn

Lời Cuối

Tuổi Xa Người

Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên

….

Trên Ngọn Tình Sầu (thập niên 70) 12 ca khúc:

phổ biến nhiều nhất : Giọt Lệ Cho
Ngàn Sau

Giữ Ðời Cho Nhau (1983 tái bản 1993) 12 ca khúc :

Giữ Ðời Cho Nhau

Qua Vùng Biển Nhớ

Hóa Kiếp

Mắt Lệ Cho Người

Nằm Nghe Em Hát Trên Vùng Biển

Một Thoáng Nhìn Nhau

Một Mình Trên Ðồi Nhớ

Tình Tự Mùa Xuân

Thiên Ðường Quạnh Hiu

Trên Tháng Ngày Ðã Qua

Như Chiếc Que Diêm

Mùa Xuân Và Tình Yêu Em

Comments

Nhật Ngân

Tên thật là Trần Nhật Ngân. Sinh tại Thanh Hóa và lớn lên tại Ðà Nẵng. Cựu cán bộ tâm lý chiến trung tâm huấn luyện Quang trung. Hiện định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1982. Theo học nhạc với giáo sư Ðỗ Thế Phiệt về violon và piano. Khởi sáng tác từ năm 1959. Ngoài viết những ca khúc ký tên Nhật Ngân, ông còn một số sáng tác chung với nhạc sĩ Trần Trịnh, Và vì, cả hai chơi thân với Lâm Ðệ (con rể chủ hãng dĩa Sóng Nhạc) nên đã khai sinh ra tên: Trịnh Lâm Ngân.

Những nhạc bản phổ biến rộng trong quần chúng:
Tôi Ðưa Em Sang Sông (viết chung với Y Vũ)
Ngày Vui Qua Mau
Lời Ðắng Cho Một Cuộc Tình
Bài Hát Cho Người Kỷ Nữ
Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về
Một Mai Giã Từ Vũ Khí
Xuân Này Con Không Về
Qua Cơn Mê
Xin Chia Buồn
Mùa Xuân Của Mẹ
Người Tình Và Quê Hương
Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?
Ngày Ðá Ðơm Bông
Cả Nhà Làm Thơ (phổ thơ Trần Mộng Tú)

Gần đây nhất, nhạc sĩ Nhật Ngân đã viết thêm hai ca khúc tiếp theo cho bài nhạc nổi tiếng “Xuân Này Con Không Về”, là các bản “Xuân Nào Con Sẽ Về” và “Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu” - được các ca sĩ Tường Nguyên và Quang Lê trình diễn rất đạt trong Video Paris By Night 76 Chủ Đề Xuân Tha Hương 2005.

Nhật Ngân: 40 năm cho âm nhạc Việt Nam

“Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời”.
Năm nay (?) 58 tuổi đời, nhưng Nhật Ngân đã có một quá trình hoạt động trong lãnh vực âm nhạc từ 40 năm qua. Ðó là một tên tuổi lớn trong làng âm nhạc, tác giả của nhiều ca khúc giá trị - với số lượng lên tới hàng trăm bài, không kể đến những nhạc phẩm Mỹ hoặc Pháp do ông soạn lời Việt. Không những thế, ngoài việc sáng tác ca khúc, Nhật Ngân còn là tác giả của nhiều nhạc kịch rất quen thuộc trong các chương trình video.

Trần Nhật Ngân, sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều, nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Ðà Nẵng.

Vào khoảng cuối thập niên 50, Nhật Ngân cùng mẹ vào SàiGòn, theo chân các anh chị đã vào đây từ trước, trong khi bố ông đã qua đời từ lâu. Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài, ông trở ra Ðà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó, tại Ðà Nẵng và Huế, Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn, qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Ðỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.

Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công xử dụng vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không đủ khả năng mua cho ông nhạc khí này. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Và chính quyết định đó đã đưa Nhật Ngân đi theo con đường sáng tác.

“Tôi Ðưa Em Sang Sông”

Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên “Tôi Ðưa Em Sang Sông.”

Về trường hợp ra đời ca khúc này, Nhật Ngân cho biết: Khi trở về dạy học ở Ðà Nẵng, ông có một người yêu.Mà thời đó các gia đình ở miền Trung, vấn đề là phải có chức phận, thì họ mới gả con gái cho mình. Thế nhưng thuở đó ông chỉ là người dạy học thôi, nhất là còn trẻ lắm, nên gia đình cô ấy không chịu gả và cô ấy đi lấy chồng. “Thật sự là ngẫu hứng thôi, tôi làm bài hát đó”.

Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng “Tôi Ðưa Em Sang Sông” đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay chuyền cho nhau hát.

Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông Tin, lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên với “Tôi Ðưa Em Sang Sông” để dễ dàng đến với quần chúng hơn. Khi được phát hành, “Tôi Ðưa Em Sang Sông” được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ.

Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về

Với một tâm hồn lãng mạn của thời niên thiếu, Nhật Ngân, vì cảm mến giọng ca của một nữ ca sĩ tên tuổi thời đó, đã cảm hứng để sáng tác tình khúc thứ nhì của ông là “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về” đã được Lệ Thanh trình bầy lần đầu tiên qua phần phụ họa của Hồng Phúc và Thanh Sơn. Cũng như “Tôi Ðưa Em Sang Sông, ” nhạc phẩm “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về” vào đầu thập niên 60 đã trở thành ca khúc quen thuộc đối với thính giả của các đài Sài Gòn và Quân Ðội và là những nhạc phẩm được nhà Diên Hồng xuất bản dưới hình thức những bản nhạc rời bán rất chạy.

Cuộc đời quân ngũ.

Năm 1965, Nhật Ngân gia nhập Cục Tâm Lý Chiến, một năm sau ông được chuyển về làm trưởng ban văn nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cho đến năm 1975. Trong thời kỳ này ông viết rất nhiều ca khúc về quân đội trong số có những bài quen thuộc như “Người Tình Và Quê Hương, ” “Lính Xa Nhà, ” “Mùa Xuân Của Mẹ, ” “Xuân Này Con Không Về, ” v.v. Riêng ca khúc sau là một trong những ca khúc dính liền với tên tuổi của Duy Khánh, khiến có nhiều người lầm tưởng chính Duy Khánh là tác giả.

Sau 1975 kẹt lại Việt Nam, Nhật Ngân thỉnh thoảng cùng với một số anh chị em cùng hoàn cảnh đi trình diễn nhiều nơi. Thời gian này ông đã cho ra đời nhạc phẩm nổi tiếng, có tính cách châm biếm điều mà nhà cầm quyền Việt Nam thời kỳ này gọi là “giải phóng” vào tháng Tám năm 75. Ðó là ca khúc “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?” được nữ ca sĩ Ngọc Minh phổ biến đầu tiên tại hải ngoại sau khi vượt biển rời khỏi Việt Nam.

Nhật Ngân sau đó cũng một mình rời Việt Nam vào năm 1982, bị kẹt ở trại tỵ nạn Sikiu, Thái Lan cho đến năm 84 mới được nhận vào Hoa Kỳ và ông được nữ ca sĩ Thanh Thúy bảo trợ về sống tại phía bắc Hollywood. Một thời gian sau, ông dời xuống Orange County ở chung với nghệ sĩ Nguyễn Long trong khi chờ ngày đoàn tụ với vợ con vào năm 90.

“Thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi”.

Nhật Ngân lập gia đình vào năm 1969 và có ba người con. Người con gái lớn của ông tên Ngân Khánh, đã tốt nghiệp cử nhân về âm nhạc Ðại học Fullerton, nam California. Ông đã lấy tên Ngân Khánh để ký dưới một số nhạc phẩm như “Giã Từ Vũ Khí” và “Cám Ơn.” Người con trai kế của ông đang theo học về ngành dược, trong khi người con trai út đã tốt nghiệp về ngành điện toán. Với tình trạng như vậy, Nhật Ngân cho là mình đã được thảnh thơi trong việc sáng tác “thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi.”

Ngay thời gian đầu đặt chân lên đất Mỹ, Nhật Ngân đã vùi đầu ngay vào công việc sáng tác. Ông cho ra đời nhạc phẩm đầu tiên tại hải ngoại là “Hương.” Nhật Ngân đã dựa trên một bài thơ của Nguyễn Long để soạn thành cakhúc này.

“Hương” đã thành công ngay từ bước đầu với tiếng hát của Elvis Phương, kế đó với tiếng hát của Tuấn Anh và gần đây hơn cả là Nguyễn Hưng.

Nhật Ngân cũng từng phổ nhạc từ một số bài thơ tại hải ngoại, trong số có bài thơ “Kiếp Sau” của Trần Mộng Tú, do Ái Vân trình bầy trên một chương trình video của trung tâm Thúy Nga.

Nhật Ngân cho biết đối với những sáng tác có “hơi hướng quê hương” của ông “thì Duy Khánh, Hương Lan, Thanh Tuyền là thích hợp hơn cả “. Do đó, ông thường nhắm vào một tiếng hát đặc biệt để sáng tác trước khi gửi đến người nghe. Còn về những ca khúc tình cảm thì “những bài của tôi như “Ngày Vui Qua Mau, ” “Lời Ðắng Cho Một Cuộc Tình” hay “Hương” thì đủ giọng ca có thể hát được.”

Tình trạng nghệ sĩ sáng tác hiện nay.

Theo Nhật Ngân, cuộc sống của một nghệ sĩ sáng tác hiện nay ở hải ngoại đang trong tình trạng dễ thở hơn những năm trước về mặt kinh tế mà nguyên nhân chính do sự phổ biến mạnh mẽ của các chương trình video ca nhạc.

Sự phát triển của video từ hơn 10 năm nay đã nuôi dưỡng được phong trào sáng tác nhạc mới cũng như một số hoạt động văn nghệ cho các nhạc sĩ bằng cách này hay cách khác có thể sống được. “Những năm trước thì tôi nghĩ là không sống nổi. Cái thời điểm trước, từ 84 trở đi cho tới khoảng độ 90, 91, 92 chẳng hạn thì tương đối mình sống vẫn èo ọt lắm. Nhưng những năm sau này chẳng hạn, từ khi mà video mạnh lên, những video như là Thúy Nga, Asia hay mấy trung tâm lớn họ làm mạnh lên thì tôi nghĩ nếu những người nào có khả năng thì có thể vẫn sống được với ngành âm nhạc.”

Ðối với một số nhạc sĩ khi ghi nhận về dòng nhạc Việt trong nước và hải ngoại đã cho rằng có sự khác biệt, nhưng theo Nhật Ngân thì hai dòng nhạc đều giống nhau, đặt căn bản trên sự rung động của tâm hồn mình: “Tôi thật sự không biết đối với những tác giả khác như thế nàọ Nhưng mà riêng tôi, thì tôi thấy khi mình gặp những cái rung động nào đó xẩy đến với tâm hồn mình thì mình vẫn viết thoải mái. Tôi nghĩ trước năm 75 và sau năm 75 cũng đều giống nhau cả. Những nguồn cảm hứng đến với tôi thì tôi có thể trọn vẹn đem tới được người nghe.”

Ngay như dựa trên sự thay đổi về hoàn cảnh xã hội trước kia và hiện nay, ông cũng không cho là có ảnh hưởng đến công việc sáng tác của mình vì hiện nay ông vẫn sáng tác một cách đều đặn.

Mức độ sáng tác của Nhật Ngân được ông ví von như một cái máy xe hơi chạy đều nên không bị trục trặc và rỉ sét. Trái với một vài nghệ sĩ cùng thời với ông, không còn tìm thấy được hứng thú trong việc sáng tác hoặc không có dịp để phổ biến tác phẩm mình.

Những kinh nghiệm cho những người tiếp nối.

Nhật Ngân cho biết cách hiệu quả nhất để phổ biến những ca khúc của những người sáng tác hiện nay là qua phương tiện video. Tuy nhiên đó không phải là điều mà những trung tâm nhạc có thể thực hiện được một cách dễ dàng. Vì phần lớn các trung tâm nhạc hiện nay vẫn dùng nhiều nhạc phẩm cũ, trong khi có rất nhiều sáng tác mới từ khắp nơi được gửi đến. Về điểm này, Nhật Ngân đưa ra những nhận xét “Những trung tâm nhạc tốn kém nhiều trong việc thực hiện một bài hát hoặc là một màn video chẳng hạn. Họ làm ăn, cho nên họ chắc ăn hơn. Họ không muốn đánh bài với những tác phẩm mới mà không biết có đi đến đâu không. Thật sự tôi cũng không dám nói là mọi trung tâm đều nặng về thương mại. Thế nhưng phải “có thực mới vực được đạọ” Tôi nghĩ là họ vẫn phải nghĩ đến chuyện sản phẩm của họ có được yêu thích không. Thành ra khi lựa bài, họ rất là khó khăn. Khó khăn vì nếu xài bài của người trẻ mà lỡ bài không ăn là họ mất credit, sản phẩm bán không chạy. Ðã tốn tiền mà không chạy, rồi sẽ khiến khán giả bắt đầu sợ các sản phẩm có những bài nhạc không ăn khách.”

Vấn đề phổ biến những ca khúc mới của những tác giả trẻ cứ luôn ở trong vòng lẩn quẩn. Một giải pháp tương đối hữu hiệu theo ông là nếu những nhạc sĩ trẻ có khả năng thì nên tự mình thực hiện một clip video cho ca khúc của mình để giới thiệu với các trung tâm như trong trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn trước kia đã thực hiện một clip video rất công phu và tốn kém để giới thiệu tác phẩm của mình. “Mà khi ca khúc đó thật sự được mọi người chấp nhận thì trung tâm họ sẽ bắt đầu từ từ chấp nhận cái tên đó luôn.”

Nhật Ngân gọi đó là một sự đầu tư và là một sự hy sinh đầu tiên để đẩy tác phẩm của mình lên. Hoặc theo như kinh nghiệm của ông, nếu các nhạc sĩ trẻ muốn được các trung tâm lớn chú ý tới, cần phải làm một băng nhạc hay một CD “demo” thật hay ở phòng thâu, nhờ những giọng ca tên tuổi thu một hai nhạc phẩm của mình để gửi đến các trung tâm. Sau khi nghe băng nhạc mẫu đó các trung tân nhạc mới có thể quyết định đưa vào chương trình của họ hay không. Nếu chỉ gửi đến họ những nhạc phẩm viết hoặc in trên giấy, Nhật Ngân khẳng định kết quả chỉ là một con số không. Vì theo ông phần lớn các trung tâm nhạc không có khả năng nhìn bài để định giá được vấn đề nhạc phẩm đó có ăn khách hay không.

Trước vấn đề nhạc trong nước lan tràn tại hải ngoại.

Một vấn đề khác hiện vẫn còn là một đề tài đang được bàn tán tới nhiều là sự lan tràn của nhạc trong nước tại hải ngoại. Trước sự kiện này Nhật Ngân đã đưa ra một số nhận xét của ông về những giọng ca cũng như những sáng tác trong nước. Thêm vào đó là những lý do khiến những trung tâm nhạc tại hải ngoại nhắm vào việc khai thác những tác phẩm đó: “Thật sự thì nhạc trong nước trong thời gian vừa rồi rộ ra ở ngoài, thì mình công nhận là trong đợt đó, trong nước có một số bài có vẻ nghe được, có vẻ ăn khách đối với quần chúng.
Sự kiện được mọi người thích thì cũng đúng thôi. Vì bài dễ nghe, có một chiều hướng tương đối khác với sáng tác bên này. Thứ đến là các giọng ca bên đó rất rất thích hợp với các loại bài đó. Các trung tâm bên này xử dụng lại những bài hát đó là vì những bài đã được lăng xê rồi, thành họ mạnh bạo thu thanh với những giọng hát ở hải ngoại. Nhất là vấn đề tác quyền gần như không có, cho nên mọi người đều sẵn sàng làm thôi. ”
Tuy nhiên theo ông sự tràn ngập của nhạc trong nước tại hải ngoại chỉ là một phong trào nhất thời, dấy lên từng đợt và không có khả năng duy trì lâu dài vì “cho tới bây giờ đâu còn bài nào nữa đâu. ”

Nhật Ngân còn nhấn mạnh thêm là dù trong nước có đông người sáng tác thật sự, nhưng không phải lúc nào cũng có những nhạc phẩm hay. Riêng đối với những ca sĩ trong nước, ông đã không phủ nhận khả năng về kỹ thuật của những tiếng hát này.

Yêu đời và thoải mái

Hiện nay sinh hoạt của nhạc sĩ Nhật Ngân là sinh hoạt của một người nhàn hạ, trong niềm hạnh phúc gia đình cùng với những người con đã thành đạt và một người vợ với công việc làm thường nhật về ngành y tá: “Sinh hoạt bình thường của tôi là ngoài những giờ thể thao, buổi sáng cà phê ra thì về nhà sáng tác, làm việc.”

Những giờ thể thao như ông nói là những giờ đánh tennis từ sáng sớm đến gần 9 giờ sáng để cố gắng duy trì sức khỏe tốt sau khi đã bị cắt đi hai phần ba bao tử để ngăn chận sự phát triển của bệnh ung thư vào năm 1992.

Tự nhận mình là một người được nhiều ưu đãi, về mặ.t gia đình cũng như nghề nghiệp, Nhật Ngân - với một tính tình luôn vui vẻ - có một cái nhìn rất lạc quan về cuộc đời, để từ đó ông tiếp tục sống trong thế giới âm nhạc mà ông đã đóng góp không ít. Từ tư tưởng lạc quan về cuộc đời đó, lý luận của Nhật Ngân trong âm nhạc là cuộc sống bao giờ cũng rộng mở trước mặt để ” Cũng vì còn nhiều gắn bó với cuộc đời mà Nhật Ngân đã thoát được bệnh ung thư bao tự Và từ đó ông còn cảm thấy yêu đời hơn nữa sau 40 năm tạo cho mình được một gia tài âm nhạc lớn lao.

Trường Kỳ

Comments

Văn Phụng

Nói đến Văn Phụng người ta nghĩ ngay đến tài năng hòa âm phối khí xuất chúng và óc khôi hài của ông. Ông khôi hài trong mọi trường hợp, kể cả lúc bi quan nhất và ăn nói rất “tếu”.

Nhạc sĩ Văn Phụng (VP) sinh năm 1930 tại Hà Nội. Ông đam mê âm nhạc từ nhỏ nên đã được hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng đặc biệt nâng đỡ và chỉ dẫn.

Đúng là trời không phụ tài. Năm 1945, cậu bé Nguyễn Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm bản “La Prière d’une Vierge” tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. VP chơi dương cầm hay lắm. Mời các bạn xem lại băng video “Thúy Nga” 27 xem ông đệm cho vợ là Châu Hà hát “Suối Tóc”. Lúc ấy, ông đã trên 65 tuổi, tay trái đã bị cứng đi nhiều mà chơi vẫn còn rất hay và… lả lướt. Tài năng làm “mưa trên phím ngà” của ông vẫn như thuở nào.

VP là một học sinh xuất sắc, 16 tuổi đã thi đậu Tú Tài. Thân phụ của ông rất muốn ông làm bác sĩ nên… VP theo học ngành y. Được một năm thì… ông bỏ học để chạy theo tiếng gọi của âm nhạc.

Cũng bởi quá mê nhạc nên ông thường gặp quý nhân và… giai nhân. Thôi để BN kể phần quý nhân trước nha. Còn giai nhân thì để hẹn những lần sau vậy.

Như bao nhiêu cư dân khác, VP phải rời xa Hà Nội khói lửa vào mùa thu 1946 chạy loạn về mãi tận Nam Định rồi nương náu tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn. Tại đây, ông gặp một quý nhân khác: Linh mục Mai Xuân Đình. VP được linh mục dạy âm nhạc và giáo lý. Qua sự gặp gỡ này, VP trở thành tín đồ Thiên Chúa Giáo cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng.

Năm 1948, VP hồi cư về Hà Nội thì bị lệnh tổng động viên. Ông gia nhập Ban Quân Nhạc Đệ Tam Tiểu Đoàn Danh Dự (Hà Nội). Tại đây, ông gặp những người bạn mà sau này khi di cư vào Nam đã trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng tô điểm cho “nắng đẹp miền Nam” như Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Văn Khôi, Vũ Thành, v.v… Và cũng tại đây ông gặp một quý nhân khác.

Đó là quân nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer. Ông hướng dẫn VP về hòa âm. Thế là VP trở thành nhạc sĩ hòa âm đại hòa tấu theo lối Tây Phương đầu tiên của Việt Nam. VP soạn hòa âm những bản nhạc VN cho Ban Đại Hòa Tấu Quân Nhạc gồm cả 100 nhạc viên.

Giữa lúc vui đùa, ca hát cùng bạn bè đồng sự, năm 1948, VP cho ra đời tác phẩm đầu tay của mình: “Ô Mê Ly”. Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi VP được giới yêu nhạc chú ý.

Cùng với những người bạn BN kể ở trên, VP di cư vào Nam và chẳng bao lâu ông trở thành Nhạc Trưởng của Đài Phát Thanh Quân Đội và phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát Thanh Saigon.

Trong không khí tưng bừng của “nắng đẹp miền Nam”, Văn Phụng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng, Trọng Khương, Y Vân, v.v… đã “trăm hoa đua nở”. Họ đã sáng tác những tuyệt phẩm mà cho đến bây giờ gần 50 năm sau chúng ta vẫn còn hát.

VP mang đến miền Nam những bản nhạc ngộ nghĩnh, lạ tai, sống động mang âm hưởng nhạc Nam Mỹ như “Ô Mê Ly”, “Tiếng Vọng Chiều Vàng”, “Trăng Sơn Cước”. Nhiều người cho rằng nhạc của ông chịu ảnh hưởng nặng của Tây Phương. Nhân xét này đúng nhưng cũng có phần sai nữa.

Đúng là vì cùng với một số nhạc sĩ theo trường phái cổ điển Tây Phương (do Nguyễn Xuân Khoát và Võ Đức Thu khởi xướng) như Vũ Thành, Lâm Tuyền, Văn Giảng, Nghiêm Phú Phi, v.v… VP muốn đưa âm sắc của nhạc giao hưởng vào ca khúc Việt Nam nhưng chỉ một chút thôi vì sợ quần chúng chưa quen. “Tiếng Dương Câm”, “Mưa Trên Phím Ngà” (Văn Phụng), “Giấc Mơ Hồi Hương” (Vũ Thành), Tơ Sầu (Lâm Tuyền) là những thí dụ.

VP còn “dám” sáng tác những bản nhạc theo thể điệu… “quái đản” vào thời đó như mambo, rock and roll, boléro, slow rock, calypso, v.v…

Tuy nhiên, ngay cả điệu “slow rock” là thể điệu thích hợp với không khí nghẹt khói thuốc, men rượu và nhục cảm của vũ trường nhưng khi vào tay VP thì khác. VP đã nâng ý nhạc trong “Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn” (slow rock) bay bổng vào không khí lâng lâng siêu thoát, nhẹ nhàng và trầm ấm vô cùng của người Á Đông. Bạn hãy thử đi dạo sông một mình khi nắng chiều dần tàn, lòng nhớ đến người yêu thì mới thấy thấm thía cái cảm giác siêu thoát nhẹ nhàng ấy.

Nhưng sai là ở chỗ này. Các bạn có thể tìm thấy âm hưởng dân tộc đậm đà trong “Các Anh Đi”, “Trăng Sáng Vườn Chè” (phổ thơ Nguyễn Bính) “Đêm Buồn” (phổ ca dao “Vì Nhớ Mà Buồn” trong “Quốc Văn Giáo Khoa Thư). VP còn sáng tác những bài nhạc vui như “Nhạc Ngày Xanh”, “Vui Bên Ánh Lửa”, “Tiếng Ca Bên Đồi Vắng” có âm hưởng rất… Việt Nam. Còn bài “Nhớ Bến Đà Giang” thì thật là thiết tha, gần gũi như câu hò trên sông nước.

VP quả là một nhạc sĩ đa dạng. Ông có nhiều sáng tác mà giới yêu vũ trường rất mê và không thể thiếu. Trước giờ giới nghiêm phải ráng “gỡ” thêm bài “Ô Mê Ly” cho đáng tiền vào cửa. “Đi chợ” thì phải có bài paso doble “Ghé Bến Saigon” còn dập dìu với người yêu trong điệu luân vũ đưa tâm hồn cả hai về chốn phiêu bồng thì không thể quên “Gió Chiều”.

VP được giới sành điệu cho là nhạc sĩ soạn hòa âm phối khí số 1 của VN trong suốt thời gian từ 1954 đến 1975

Biển Nhớ

Comments

Hoàng Trọng

Tên thật là Hoàng Trung Trọng, nhạc sĩ Hoàng Trọng sinh năm 1922 tại Hải Dương, Bắc Việt. Năm 1927, ông theo bố mẹ đến sống ở Nam Định.

Năm 1933, ông đã bắt đầu được học nhạc qua người anh ruột Hoàng Trung Quý. Từ năm 1937, Hoàng Trọng học nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas Nam Định. Đến năm 1941, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ Universelle de Paris.

Ngoài chuyện có khiếu về âm nhạc, từ thuở thiếu niên, Hoàng Trọng còn có khả năng tập họp, tổ chức ban ca nhạc. Đến năm 15 tuổi, ông đã tập họp các anh em trong gia đình như Hoàng Trung An và Hoàng Trung Vinh, các bạn như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ… thành một ban nhạc. Thuở ban đầu, ban nhạc không có tên, chỉ để giải trí và cũng để trình diễn giúp việc nghĩạ Nhưng đến năm 1945, khi Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Nam Định, ban nhạc trình diễn mỗi tối ở đó và vì vậy lấy tên là ban nhạc Thiên Thaị Phòng trà và ban nhạc của Hoàng Trọng hoạt động đến khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ năm 1946. Thời gian ở Nam Định, ông cũng có mở một lớp dậy đàn, vào năm 1940.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi những nhạc sĩ đàn anh như Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát… phổ biến những bài hát tiên phong của Tân Nhạc Việt Nam, Hoàng Trọng đã sáng tác bản nhạc Đêm Trăng năm 1938 khi ông vừa 16 tuổị

Vì chiến tranh ông di chuyển khỏi Nam Định, qua Phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng định cư tại Hà Nội năm 1947. Chính thời điểm này ông đã viết ra Phút Chia Ly, một nhạc phẩm Tango bất diệt, lời do Nguyễn Túc đặt:

Lòng tê tái vương nhớ nhung
Người chinh phu với sầu đông
Thuyền không bến lắng trôi tới đâu
Đưa đón ai xa ngừng bến nào
Thầm reo rắc chi sầu nhớ….

Phải nói không nhạc sĩ Việt Nam nào viết Tango nhiều và viết Tango hay như Hoàng Trọng, do đó về sau này ông đã mệnh danh là Vua Tango qua những tác phẩm Tiếng Đàn Ai, Thu Qua, Cánh Hoa Xưa, Bên Sông Đưa Người, Lá Rụng, Mộng Ngày Hồi Hương, Thương Về Quê Cha, Tình Trăng, Bóng Trăng Xưa, Hương Yêu… và nhiều bản nổi tiếng như Phút Chia Ly, Mộng Ban Đầu, Mộng Lành, Đường Về, Đẹp Giấc Mơ Hoa, Tiễn Bước Sang Ngang, Em Còn Nhớ Không Em, Ngỡ Ngàng, Nhớ Hoài, Bắc Một Nhịp Cầu…

Những ngày hồi cư về Hà Nội, Hoàng Trọng đã liên lạc được với những nghệ sĩ của đài phát thanh như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ… và do đó tác phẩm của Hoàng Trọng bắt đầu được phổ biến.

Cũng thời gian ở Hà Nội, ông đã viết và được nhà xuất bản Thế Giới ấn hành quyển Tự Học Hạ Uy Cầm do ông biên soạn theo kinh nghiệm dậy đàn trước kia.

Năm 1950, nhạc sĩ Hoàng Trọng gia nhập quân đội và là trưởng ban Quân Nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn mỗi tuần tại một vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội và trong chương trình Tiếng Nói Bảo Chính Đoàn của đài phát thanh Hà Nộị Khoảng thời gian này ông viết nhiều bài hát trong đó có “Gió Mùa Xuân Tới”, điệu Rumba:

Gió mùa xuân tới
Cánh đồng tươi thắm trong nắng vàng
Muôn bướm tung bay
Mang sắc tươi phô cùng trời sáng…

Ngoài Gió Mùa Xuân Tới, những bài hát Rumba hay những điệu gần vậy như Bolero, Samba… về sau Hoàng Trọng sáng tác thêm là Nhớ Thương, Đường Về Dĩ Vãng, Thôi Đừng Lưu Luyến, Say Say Say, Vui Cảnh Mùa Hè, Trăng Lên, Nhịp Võng Ngày Xanh, Hương Đời Đẹp Tươi…

Năm 1953, tên tuổi ông nổi bật từ bản Nhạc Sầu Tương Tư, điệu Slow hầu như được trình diễn mỗi ngày trên các đài phát thanh:

Chiều rơi cho lòng lạc loài chơi vơi
Ngày rơi ai buồn giây phút qua rồi
Thời gian luống phụ cho ai mãi đâu
Luống hận cho ai mãi đâu
Muôn kiếp u sầu…

Nhạc về nhịp điệu Slow được ông viết nhiềụ Trước Nhạc Sầu Tương Tư, có Buồn Nhớ Quê Hương (được giải thưởng Âm Nhạc Bắc Việt 1952). Về sau Hoàng Trọng có thêm những bản hay như Bên Bờ Đại Dương, Tiếng Lòng, Nhớ Về Đà Lạt, Khóc Biệt Kinh Kỳ, Mộng Đẹp Ngày xanh…

Trong số những bản nhạc Hoàng Trọng sáng tác năm 1953 có Dừng Bước Giang Hồ, bản nhạc Pasodoble nổi tiếng như sau:

Chiều nay sương gió
Lữ khách dừng bên quán xiêu
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều
Vương về bên quán tiêu điều
Vầng trăng hoen úa
Như lá vàng rơi cuối thu
Lững lờ soi mấy hàng cây
U sầu ta ngắm trời mây…

Những bản nhạc thuộc loại nhóm có nhịp điệu như Pasodoble, Fox và March của Hoàng Trọng có thể kể thêm là Chiều Về Thôn Xưa, Khúc Hát Mùa Chiêm, Hồn Thanh Niên…

Năm 1954, ông di cư vào Nam, chỉ một hai năm sau Hoàng Trọng đã sáng tác rất mạnh và có những ca khúc rất phổ thông.

Bản Ngàn Thu Áo Tím hay cả lời lẫn nhạc, do Vĩnh Phúc viết lời, là một thành công nhất trong những bản nhạc valse của ông như sau:

Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím
Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến
Chiều xuống áo tím thường thướt tha
Bước trên đường thắm hoa
Ngắm mây chiều lướt xa…

Những bản luân vũ khác hay của Hoàng Trọng đã viết có thể kể Chiều Mưa Nhớ Bắc, Khúc Ca Mầu Xanh, Bạn Lòng, Lạnh Lùng…

Trong tổng số khoảng 200 bản nhạc, khá nhiều là nhạc tình yêu và quê hương do Hoàng Trọng sáng tác, ông chỉ đặt lời lấy cho độ 40 bản, còn lại ông để cho nhiều người khác viết lời cho những bài hát. Đó là Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Vĩnh Phúc…

Nhạc sĩ Hoàng Trọng viết nhạc cho rất nhiều phim Việt Nam kể cả những phim có tiếng như Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Người Tình Không Chân Dung, Sau Giờ Giới Nghiêm, Bão Tình… Riêng nhạc của cuộn phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, Hoàng Trọng đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật trong năm 1972-1973.

Sau năm 1954, định cư ở miền Nam, Hoàng Trọng bắt đầu thành lập những ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền Hình Việt Nam. Những ban nhạc của ông hoạt động đến mãi 1975, có nhiều tên khác nhau như Hoàng Trọng, Tây Hồ, Đất Nước Mến Yêu… và nhất là từ năm 1967 Tiếng Tơ Đồng, ban nhạc đại hợp xướng trình bầy toàn là những nhạc phẩm đa số là nhạc tiền chiến có giá trị, với thành phần ca nhạc sĩ hùng hậu và tên tuổi của miền Nam Việt. Năm này qua năm khác, trước 1975, những ban nhạc này đã góp phần lớn lao vào đời sống tinh thần của người dân Việt.

Sau 1975, ông chỉ sáng tác có vài ba bản nhạc và không thấy phổ biến nhiều. Bản cuối cùng của Hoàng Trọng là Chiều Rơi Đó Em.

Năm 1992, Hoàng Trọng qua định cư tại Hoa Kỳ và ông đã qua đời năm 1998.
Nhạc sĩ Hoàng Trọng, Vua Tango, có một chỗ đứng cao quý trong Tân Nhạc Việt Nam.

Phạm Anh Dũng
Tháng 10, 2000
Santa Maria, California, U.S.A.

Comments

Anh Bằng

Tên thật Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội, sau 1954 sống tại Sài Gòn, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1965 - 1975 cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nhóm sáng tác ký tên chung là Lê Minh Bằng
Những ca khúc thịnh hành của Anh Bằng :

Nếu Vắng Anh
Hẹn Anh Ðêm Nay
Chuyện Giàn Thiên Lý (theo thơ Yên Thao)
Bướm Trắng
Nỗi Lòng Người Ði
Anh Biết Em Ði Chẳng Trở Về (thơ Thái Can)
Tango Dĩ Vãng
Sài Gòn Thứ Bảy
Nửa Ðêm Buốt Giá
Tình Yêu Tuyệt Vời
Lời Tình Băng Giá
Trả Em Cay Ðắng Mộng Vàng
Dù Nắng Có Mong Manh
Nhớ Sài Gòn (cùng Trúc Giang)
Tâm Hồn Cô Ðơn
Cô Bé Môi Hồng
Chuyện Người Con Gái Ao Sen
Người Thợ Săn Và Ðàn Chim Nhỏ
Mất Nhau Mùa Ðông
Từ Ðộ Ánh Trăng Tan (thơ Ðặng Hiền)
Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê)

Những ca khúc sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng:

Ðêm Ngoại Ô
Ðêm Nguyện Cầu

Tình Là Sợi Tơ

Comments

Trần Thiện Thanh

Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một nhạc sĩ Việt Nam chuyên viết về nhạc trữ tình. Bút hiệu ông thường dùng là TTT nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương, Anh Thy và Trần Thiện Thanh Toàn. Ông còn nổi tiếng trong tên ca sĩ Nhật Trường.

Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958 và chẳng bao lâu giọng hát trau chuốt của ông được giới yêu nhạc Sài Gòn yêu mến ngay.

Ông nguyên là giáo viên trung học, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ năm 1965 cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông làm việc tại Ðài Phát thanh và sau đó Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và sau năm 1968 ông còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.

Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thâu băng tên là “Tiếng hát đôi mươi”. Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm 3 nữ ca sĩ: Như Thủy, (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi (”nữ hoàng” của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn) hát phụ họa cùng với ông.

Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh và truyền hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay ca diễn với Thanh Lan.

Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Lúc đó, Nhật Trường và Thanh Lan thường hát chung với nhau. Đây là một tiết mục rất ăn khách trên TV thời đó. Loạt nhạc cảnh này cũng được thâu thành phim với tên Trên đỉnh mùa đông

Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị chính quyền cộng sản cấm hoạt động. Tới năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại tuy nhiên, ông từ chối làm việc dưới chế độ mới.

Trong những năm ít xuất hiện trên sân khấu, Trần Thiện Thanh vẫn soạn nhạc. Tới năm 1993 thì ông sang Hoa Kỳ theo diện ODP.

Trần Thiện Thanh bị ung thư phổi. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam.

Trần Thiện Thanh sáng tác khoảng 100 ca khúc, trong số đó có những bài nổi tiếng như :

Ai nói yêu em đêm nay
Anh không chết đâu anh, vinh danh Đại úy Nguyễn Văn Đương
Anh về với em
Bảy ngày đợi mong
Biển mặn, Đây là tác phẩm gần như kể về cuộc đời nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, bài này do Trần Thiện Thanh hát thì rất hay
Chiếc áo bà ba, mang âm hưởng dân ca
Chiều trên phá Tam Giang
Chuyện hẹn hò, bài này do Trần Thiện Thanh hát thì rất hay
Đám cưới đầu xuân
Hoa biển, viết tặng Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Khi người yêu tôi khóc
Không bao giờ ngăn cách,
Lâu đài tình ái
Mùa đông của anh
Người ở lại Charlie, vinh danh Đại tá Nguyễn Đình Bảo
Rừng lá thấp, bài này được rất nhiều ca sĩ thể hiện
Tình có như không
Tình-thư của lính, sáng tác trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, trong dịp này ông là Trung đội trưởng Trung đội ứng chiến phòng thủ Biệt Khu Thủ Đô
Tình đầu tình cuối
Trên đỉnh mùa đông
Tình thiên thu (Chuyện tình Mộng Thường)
Từ đó em buồn, bài này do Trường Vũ hát thì rất hay
Tuyết trắng, viết tặng Không quân Việt Nam Cộng hòa….

Thông tin thêm

Có lần Trần Thiện Thanh được hỏi vì sao ông chọn tên Nhật Trường. Ông trả lời: “Hồi nhỏ tôi thích ca hát lắm nhưng bố mẹ tôi không cho. Thế là tôi phải chờ đến ban đêm đợi bố mẹ đi ngủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban ngày thèm hát quá mà phải đợi đến tối, thấy ngày sao dài ghê nên tôi chọn tên Nhật Trường, có nghĩa là … ngày dài.” [1]

Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Thiện Thanh gom bài Người bên lề cõi sống cùng với các bản khác như Đôi tiếng tự do, Từ nửa vòng trái đất, Ở giữa muộn phiền, Trại cấm, … để làm thành CD Đôi tiếng tự do.

Năm 2006, Trung tâm Asia có thực hiện chương trình đặc biệt Nhật Trường Trần Thiện Thanh - Anh không chêt đâu anh (Asia DVD 50) để vinh danh ông.

Hiện nay, tại Việt Nam, chỉ có một số ít ca khúc của ông được phép lưu hành chính thức như Chiếc áo bà ba, Tình đầu tình cuối, Gặp nhau làm ngơ

Comments

Thanh Lan

Thấm thoắt đã 6 năm kể từ khi Thanh Lan đặt chân lên đất Mỹ với những ngày đầu tiên gặp nhiều sóng gió, đến từ những nguồn dư luận không thuận lợi cho sự có mặt của cô. Tên thật của cô là Phạm Thái Thanh Lan. Cho đến ngày hôm nay, Thanh Lan đã chính thức bước vào làng ca nhạc một cách chuyên nghiệp được 26 năm, nhưng thật ra trước đó cô đã từng có nhiều hoạt động trong lãnh vực này như cộng tác với ban Việt Nhi, sau đó là đoàn Văn Nghệ Nguồn Sống và được mời thu hình nhiều lần trên những chương trình truyền hình. đó là những năm 1967, 1968 khi Sài Gòn mới có những chương trình truyền hình đầu tiên. Nếu coi như là hoạt động có tính cách chuyên nghiệp thì đến năm 1973 mới có thể coi là Thanh Lan chính thức góp mặt trong những phòng trà và vũ trường Sài Gòn trong khi trước đó cô chỉ thu băng nhạc hoặc những chương trình truyền hình ngoài giờ học. Trở lại với Thanh Lan trong thời kỳ đầu tiên, bắt buộc phải nhắc đến những nhạc phẩm lời Pháp do cô trình bày trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào nhạc trẻ Việt Nam. Cô nữ sinh Marie Curie và sau đó là sinh viên đại học Văn Khoa với nụ cười thật tươi đó đã để lại những cảm tình sâu đậm đối với người nghe qua cách phát âm thật rõ ràng cả hai ngôn ngữ Pháp và Việt như qua nhạc phẩm “Mon amie la Rose” do chính cô soạn lời Việt dưới tựa đề “Nụ Hồng Mong Manh”, diễn tả đời một người con gái tựa như một đóa hoa hồng trong nội dung bài thơ của thi hào Ronsard mà cô rất mến mộ.
Thanh Lan cho biết đời sống cũng như nghề nghiệp của cô được chia làm 3 giai đoạn rõ rệt là: trước năm 1975, sau năm 1975 khi còn ở Việt Nam và giai đoạn thứ 3 là giai đoạn sống tại hải ngoại từ ngày 28 tháng 12 năm 1993 cho đến nay. đối với cô, giai đoạn trước biến cố tháng 4 năm 1975 là giai đoạn cô cho là đáng sống nhất vì không phải gặp nhiều khó khăn và lo lắng như khi sống tại hải ngoại, nhất là trong vài năm đầu tiên. Sau 6 năm sống bơ vơ tại hải ngoại, Thanh Lan đã vượt qua được nhiều thử thách, từ nỗi cô đơn xa người con gái thân yêu cho đến những người thân trong gia đình cho đến những nguồn dư luận không mấy thuận tiện cho cô, nhưng nhờ lòng yêu thương của khán thính giả khắp nơi, Thanh Lan đã tái tạo cho mình một chỗ đứng và chắc chắn vẫn luôn được coi là một trong những tiêu biểu xứng đáng cho nền ca nhạc Việt Nam.

Comments

Thanh Trúc

Tên Thật: Tatiana Nguyễn Thu Hằng
Ngày Sinh: Ngày 9 Tháng 10 Năm 1971
Nơi Sinh: Bình Tuy, Việt Nam
Cao: 5″3 (1 mét 6)
Nặng: 100 lbs (46 kg)
Gia Đình: 4 trai và 6 gái
Thích Chơi Thể Thao: Chơi Tenis, Bóng rổ, bóng chuyện
Thích Thứ Ăn: Bánh cuốn, thức ăn Thái Lan
Thích Màu: Tím
Thích Thú Vật: Thỏ
Thích Diễn Viên: Mel Gibson, Sharon Stone
Thích Ca Sĩ: Whitney Houston, Celine Dion
Thích Địa Điễm: Acapulco

Một khuôn mặt khả ái, một giọng nói tự nhiên và đầy vẻ thành thật là tất cả những gì người ta ghi nhận được nơi một người ca sĩ trẻ mang tên Thanh Trúc, một trong những khuôn mặc đang được để ý tới hiện nay. Tiếng hát của Thanh Trúc tuy mới chỉ còn ở bước đầu dò dẫm nhưng không phải vì vậy mà không có được một vài sắc thái đặc biệt. Sau những lần xuất hiện trên chương trình video của trung tâm Asia, Thanh Trúc đã tỏ ra có rất nhiều tiến bộ trên con đường ca nhạc mà cô đã nhất quyết theo đuổi mặc dù đã có được một việc làm khá vững vàng trong 4 năm về ngành “marketing” ngay sau khi tốt nghiệp đại học.
Thanh Trúc tên thật là Nguyễn Thu Hằng, nhưng kể từ khi chọn lựa con đường nghệ thuật để theo đuổi, cô thiếu nữ sinh ở tỉnh Bình Tuy này đã chọn tên Thanh Trúc. Cô sinh trưởng trong một gia đình có 10 người con mà cô là người thứ bảy. Không một ai trong gia đình có những hoạt động về văn nghệ và chỉ có cô là người duy nhất bước chân vào trong lãnh vực này và cũng vì thế cô không được sự khuyến khích từ phía gia đình. Đến bây giờ sau 3 năm đi hát, Thanh Trúc cho biết phản ứng gia đình không còn khó khăn như trước nữa. Thanh Trúc tự nhận trong những ngày đầu cô còn nhiều khuyết điểm phải sửa chữa và cô cho biết rất thích nhạc phẩm “Giọt Sầu Trong Mưa” vì cô rất thích trời mưa. Thanh Trúc cùng với bố mẹ và anh chị em sang Mỹ năm 1975, cô ở tiểu bang Louisiana 5 năm trước khi về cư ngụ tại miền Nam California. Tại thành phố New Orleans ở Louisiana cô đã từng theo học 2 năm Việt ngữ, cho nên có được một trình độ căn bản ngay từ khi còn thơ ấu. Và nhờ cô sử dụng tiếng Việt thường xuyên trong nhà nên cách phát âm của cô khá vững vàng với một âm hưởng Bắc mặc dù cô là người Bình Tuy. Hiện nay, cô đã là một thiếu nữ trưởng thành và vẫn thường xuyên xuất hiện trên băng Asia cũng như đi lưu diễn khắp nhiều nơi trên Hoa Kỳ.

Comments

Quang Lê

Là một ca sĩ trẻ, cùng gia đình định cư ở Mỹ từ năm 10 tuổi, Quang Lê đã chọn và biểu diễn thành công dòng nhạc quê hương. Nhạc sĩ lão thành Châu Kỳ đã từng khen Quang Lê là ca sĩ trẻ diễn đạt thành công nhất những tác phẩm của ông…
Quang Lê rất hạnh phúc và anh xem lời khen tặng đó là sự khích lệ rất lớn để anh cố gắng nhiều hơn nữa trong việc diễn đạt những bài hát của nhạc sĩ Châu Kỳ cũng như những bài hát về tình yêu quê hương đất nước. Sinh năm 1980, được xếp vào một trong những ca sĩ trẻ thành công, nhưng Quang Lê luôn khiêm tốn cho rằng thành công thường đi chung với sự may mắn, và điều may mắn của anh là được lớn lên trong tiếng đàn của cha, giọng hát của mẹ. Tiếng hát, tiếng đàn của cha mẹ anh như quyện lấy nhau, như một sợi dây vô hình kết nối mọi người trong gia đình lại với nhau. Những âm thanh ngọt ngào đó chính là dòng nhạc quê hương mà Quang Lê trình diễn ngày hôm nay. Quang Lê cho biết: Mặc dù sống ở Mỹ đã lâu nhưng hình ảnh quê hương không bao giờ phai mờ trong tâm trí Quang Lê, nên mỗi khi hát những nhạc phẩm quê hương, những hình ảnh đó lại như hiện ra trước mắt. Có lẽ vì thế mà giọng hát của Quang Lê như phảng phất cái không khí êm đềm của cố đô Huế.
Quang Lê là con thứ 3 trong gia đình gồm 6 anh em và một người chị nuôi. Từ nhỏ, Quang Lê thường được người chung quanh khen là có triển vọng. Cậu bé chẳng hiểu có triển vọng là gì, chỉ biết là mình rất thích hát, và thích được cất tiếng hát trước người thân, để được khen ngợi và cổ vũ. Đầu những năm 1990, Quang Lê theo gia đình sang định cư tại bang Missouri, Mỹ. Một hôm, nhân có buổi lễ được tổ chức ở ngôi chùa gần nhà, một người quen của gia đình đã đưa Quang Lê đến để giúp vui cho chương trình sinh hoạt của chùa, và anh đã nhận được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Quang Lê nhớ lại, người nghe không chỉ vỗ tay hoan hô mà còn thưởng tiền nữa. Đối với một đứa trẻ 10 tuổi, thì đó quả là một niềm hạnh phúc lớn lao, khi nghĩ rằng niềm đam mê của mình lại còn có thể kiếm tiền giúp đỡ gia đình.
Say mê ca hát từ nhỏ, và niềm say mê đó đã cho Quang Lê những cơ hội để đi đến con đường ca hát ngày hôm nay. Có sẵn chất giọng Huế ngọt ngào, Quang Lê lại được cha mẹ cho theo học nhạc từ năm lớp 9 đến năm thứ 2 của đại học khi gia đình chuyển sang sống ở California. Anh từng đoạt huy chương bạc trong một cuộc thi tài năng trẻ tổ chức tại California. Thời gian đầu, Quang Lê chỉ xuất hiện trong những sinh hoạt của cộng đồng địa phương, mãi đến năm 2000 mới chính thức theo nghiệp ca hát. Nhưng cũng phải gần 2 năm sau, Quang Lê mới tạo được chỗ đứng trên sân khấu ca nhạc của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Và từ đó, Quang Lê liên tục nhận được những lời mời biểu diễn ở Mỹ, Canada, Úc, Pháp….
Quan điểm của anh là khi dự định làm một việc gì thì hãy cố gắng hết mình để đạt được những điều mà mình mơ ước. Quang Lê cho biết anh toàn tâm toàn ý với dòng nhạc quê hương trữ tình mà anh đã chọn lựa và được đón nhận, nhưng anh tiết lộ là những lúc đi hát vũ trường, vì muốn thay đổi và để hòa đồng với các bạn trẻ, anh cũng trình bày những ca khúc Techno và cũng nhảy nhuyễn không kém gì vũ đoàn minh họa.
Hiện nay Quang Lê sống cùng gia đình ở Los Angeles, và vẫn thường xuyên được thưởng thức những món ăn Huế do chính tay người mẹ nấu. Đôi khi anh cũng ăn hamburger và một số món ăn của các nước Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan.

Comments

Y Phụng

“Làm con của vua, sướng quá chứ…” Nhưng làm con của ông vua nghệ sĩ cải lương Minh Phụng vẫn khổ… vẫn phải đi từng bước gian nan, từng ngày, từng tháng… mới có được tên nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh Y PHỤNG ngày hôm nay. Và chính sự cố gắng, học hỏi… cộng với niềm đam mê, chịu vượt qua những cơn đau, nỗi buồn đã giúp cho Y Phụng thành công rất nhiều ở những lãnh vực nghệ thuật mà cô đã đi qua.
Thừa hưởng giòng máu nghệ sĩ của bà ngoại và cha, Y Phụng đã biết yêu ánh đèn sân khấu từ năm lên sáu tuổi. Dù chỉ là vai “đào con”, cầm đuốc đi ra đi vô, vài phút đồng hồ trong vở tuồng Khói Rừng Quê Mẹ, nhưng khán giả của đoàn cải lương Tiếng Hát Quê Hương lúc bấy giờ đều thích thú trước lối diễn xuất thật dễ thương, hồn nhiên của bé Y Phụng. Thời đó, trước khi mở màn hát cải lương, các buổi hát thường có phần phụ diễn ca nhạc, Y Phụng cũng đã được cha mẹ khích lệ tập dượt đứng hát một mình những bài thiếu nhi như Mùa Xuân Em Đi Hái Hoa…
Năm lên tám, vì muốn con gái đi học đàng hoàng, nghệ sĩ Minh Phụng và Kiều Tiên chỉ cho Y Phụng bước lên sân khấu ở Sài Gòn vào dịp Hè lúc trường học nghĩ và sau đó là phải rời sân khấu không được theo đoàn lưu diễn đó đây ở dưới các miền tỉnh xa xôi. Năm lên 11, 12 tuổi… ba mẹ khuyến khích cô theo học trong trường nhịp điệu Ba lê và thể dục, dụng cụ ở trường Hưng Đạo. Càng học, càng yêu thích… và năm 14 tuổi, qua những băng ca nhạc Video từ hải ngoại “tuồn” về trong nước, hình ảnh sống động nóng bỏng của Madonna, Linda Trang Đài… càng làm cháy bỏng những đam mê thao thức của Y Phụng từ bao lâu. Những bước chân di động quyến rũ, những động tác đưa tay mời gọi ru ngủ đất trời… trên màn ảnh nhỏ của các thần tượng âm nhạc đã là những “dấu ấn” trong tim, trong đầu của Y Phụng, và cũng có thể nói của rất nhiều khán giả trẻ thời bấy giờ ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trốn học bỏ lớp, bị cha mẹ biết được rầy la cấm đoán dữ lắm, Y Phụng phải khai thiệt và xin cha mẹ cho đi hát. Cả đời làm nghệ sĩ, Minh Phụng và Kiều Tiên hiểu được những vinh quang và nhọc nhằn của nghề nghiệp này, cho nên sau những lần khuyên răn chỉ bảo mà Y Phụng vẫn một mực xin cha mẹ cho đi hát, gia đình đành chấp thuận với một điều kiện: “Trong vòng một năm con đi hát thành công thì thôi, còn hát không ra gì, con phải… về nhà đi học đàng hoàng”.
Thế là mỗi chiều mới có 5, 6 giờ là Y Phụng đã chuẩn bị thay đổi y phục chưng diện kỹ lưỡng thật đẹp để có mặt kịp tại sân khấu.Thời gian đầu đi hát, tuy là hát chùa không tiền nhưng lòng vẫn vui như Tết, chỉ mong sao tới chiều lè lẹ để chưng diện thay đồ. Tuy là con của nghệ sĩ Minh Phụng có nhiều điều kiện ưu tiên, nhưng cha mẹ cô vẫn tập cho con mình bước đi bằng chính bước chân vững chãi của mình mà không hề dựa uy, ỷ thế vào ai. Vẫn phải có mặt thật sớm để làm ca sĩ “dàn lót” kéo giữ cho những ngôi sao tới trễ. Có đêm buồn hiu hắt vì ngồi đến phút cuối mà vẫn không được diễn phải đi về. Tuy chưa có tên tuổi gì cả, nhưng sau vài lần trình diễn đầu tiên ở rạp Lao Động, do bầu Duy Ngọc phụ trách, tiết mục Y Phụng được nhiều bạn bè để ý, yêu thích. Lần lần, sau những lần giới thiệu tên Y Phụng, cô càng lúc đón nhận rất nhiều tràng pháo tay thật dữ dội. Chỉ một thời gian ngắn ngủi, nhiều tụ điểm ca nhạc đã mời Y Phụng về hát.
Rồi ở những tỉnh thành xa xôi, bầu show cũng bắt đầu mời đi hát. Lúc đó khổ lắm, vì không có tên tuổi nên hát đã lãnh ít tiền mà còn bị coi thường. Ca sĩ ngôi sao đi tỉnh được ngủ ở khách sạn, còn các ca sĩ như Y Phụng, Văn Phi Thông, Minh Thuận… phải ngủ ở rạp hát cho đỡ chi phí nhà tổ chức. Nấu ăn phải tự mang nồi lò xo bếp điện về mua gạo nấu ăn, tắm người này căng màn ra cho người kia tắm và làm gì có phòng tắm ở những nơi trình diễn đồng quê hẻo lánh. Từ hát chùa, tiền lương của Y Phụng được trả hai ngàn đồng, rồi ba ngàn… “Hai, ba ngàn đâu có nhiều gì anh. Chưa đủ tiền đổ xăng đó, nhưng cầm được tiền đi hát, em hạnh phúc không thể tả”. Cầm được hai, ba ngàn… Y Phụng hí ha hí hửng tặng ngay ba một ngàn, mẹ một ngàn, bà ngoại một ngàn… thật là hãnh diện vì đây là số tiền đi làm bằng chính tài năng sức lực của mình.
Thời điểm đó, một cô bé mới 14, 15 tuổi, mặc quần áo hơi hở hang táo bạo và trình diễn oai nhạc Mandonna. Linda Trang Đài tuy được nhiều bạn trẻ hoan nghênh, nhưng hầu hết giới báo chí ở Sài Gòn lúc bấy giờ không thể nào chấp nhận được. Những bài viết lên án, phê bình nặng tay… nêu thẳng tên Y Phụng, tưởng đâu lần đó đã làm chùn chân cô bé và dập tắt những ước mơ. Vì sợ báo chí “đánh lây”, nhiều sân khấu tụ điểm khác không dám mời Y Phụng cộng tác nữa. Sân khấu duy nhất còn lại “dám” để cô ở lại là rạp Lao Động của ông bầu Duy Ngọc. Tình cảm đó, Y Phụng hứa với lòng sẽ có ngày trả lại.
Tuy bị mấy bài báo “dập” te tua, nhưng cũng chính sự ồn ào đó đã làm nhiều người để ý thêm đến tên Y Phụng là ai? Con bé đó làm gì mà báo chí hôm qua nói nhiều dữ vậy?… Vậy đi coi thử ra sao cho biết. Cứ vậy, Y Phụng và rạp Lao Động lại có thêm mỗi ngày một số khán giả mới. Trong số những khán giả này, có cả Xuân Cường, Xuân Kỳ, những nhà đạo diễn làm phim đang đi tìm những khuôn mặt mới lạ và ăn ảnh, ăn đèn. Với ca khúc You’re My Heart You’re My Soul, Y Phụng đã tạo thành cơn sốt nóng bỏng hàng đêm cho giờ trình diễn của cô. Thế là Y Phụng được mời góp mặt trong một vai phụ, rất phụ… trong bộ phim Những Cánh Hoa Hoang Dại, và dù chỉ có xuất hiện một hai cảnh (sau khi bị cắt hết năm sáu cảnh quay) nhưng khuôn mặt Y Phụng lại để nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng rất nhiều khán giả coi phim lúc đó. Và may mắn thay, sự xuất hiện đó của Y Phụng dù rất ngắn nhưng cũng lọt vào được mắt xanh của nhà đạo diễn phù thủy hàng đầu Việt Nam: Lê Dân.
Chính lẽ Dân mời Y Phụng thủ ngay vai chánh trong phim Riêng Chỉ Có Anh bên cạnh các ngôi sao thời đó như Lê Tuấn Anh, Diễm Hương. Tuy là một ca sĩ chưa có tên tuổi gì và tiếng hát chẳng bao nhiêu nhưng không hiểu sao đạo diễn Lê Dân một mực chọn vai chánh cho Y Phụng. Lúc ấy, y Phụng chỉ mới 15, 16 tuổi. Lần đầu được đóng vai chánh bên cạnh hai ngôi sao lớn, Y Phụng mừng lắm, nhưng trong kịch bản đòi hỏi Y Phụng phải cắt đi mái tóc dài của mình, cô bé khăng khăng từ chối và quyết định trả lại kịch bản cho đạo diễn. Đến nước này, mẹ cô nghệ sĩ Kiều Tiên ra lệnh nếu con không cắt tóc đóng phim, sẽ bị ngưng hát luôn. Hai chữ “cấm hát” quả là một đau khổ lớn nhất trong đời, nên sau những giờ phút vất vả khóc lóc, cũng phải đành cắt bỏ mái tóc dài yêu quý.
Bộ phim Riêng Chỉ Có Anh ra mắt được sự hưởng ứng mạnh mẽ của khách mê phim thời đó. Và cũng nhờ cuốn phim này, hàng loạt kịch bản mới của nhiều nhà làm phim ồ ạt gởi tới Y Phụng. Từ đó mối duyên điện ảnh đã gắn chặt cùng Y Phụng rất mặn nồng. Mỗi khi đi diễn dù ở Sài Gòn hay ở các tỉnh, diễn viên điện ảnh rất được khán giả yêu mến.
Những tấm “băng-rôn”, khi thấy tên Lý Hùng, Lê Tuấn Anh, Việt Trinh, Y Phụng… đều được khán giả mua vé vào xem để được gặp mặt, được chuyện trò… Thời đó, những năm 1994, 1995… quả là thời hoàng kim của giới làm phim ảnh ở Sài Gòn. Y Phụng có lần nhận lời quay cho 3, 4 cuốn cùng một lúc, xong bối cảnh phim này, đạo diễn phải cho diễn viên chạy show đi quay cho một bộ phim khác, tuy bận rộn với điện ảnh, nhưng Y Phụng vẫn không bỏ quên sân khấu ca nhạc. Lúc này chỗ đứng của cô trong lòng người hâm mộ đã ở thật cao không như một năm về trước. Không còn những buổi hát chùa ngồi chờ thâu đêm. Giã từ những lần đi tỉnh bị ngủ ngoài rạp hát…

Comments

« Previous entries